Giãn tĩnh mạch chân là gì? Nguyên nhân dấu hiệu và cách chữa trị

Suy tĩnh mạch mạn tính được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu nghèo ôxy trở về tim.
Thói quen, lối sống hằng ngày cũng có thể là nguyên nhân gây ra chứng suy giãn tĩnh mạch (người làm các công việc đứng nhiều) chứ không chỉ là giới tính và tuổi tác. Suy giãn tĩnh mạch là bệnh phổ biến ở người trưởng thành. Nhiều phụ nữ đến điều trị giãn tĩnh mạch hơn nam giới, nhưng nam giới cũng có nguy cơ bị suy yếu và phình to các tĩnh mạch. Lớn tuổi và ít vận động làm cho bệnh có nhiều khả năng xảy ra hơn.

Tĩnh mạch là các mạch đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim. Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi: tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da, tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ và tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên. Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: Lực đẩy từ động mạch, lực hút do tim co bóp, áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim và sự co bóp của các khối cơ cẳng chân, ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim và hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

Khi hệ thống van một chiều của tĩnh mạch bị suy, sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính. Suy tĩnh mạch mạn tính được định nghĩa là tình trạng các tĩnh mạch không thể bơm đủ máu nghèo ôxy trở về tim. Bệnh này rất thường gặp ở chi dưới, xảy ra ở khoảng 10 - 35 % người lớn. Bệnh thường tiến triển chậm, không rầm rộ, ít nguy hiểm đến tính mạng nhưng trở ngại nhiều cho sinh hoạt và công việc hàng ngày, điều trị lâu dài và tốn kém nhất là khi có biến chứng.

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây suy tinh mạch chi dưới

- Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

- Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

- Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

- Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

- Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi cao.

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

- Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

- Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

- Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

- Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

Dãn mao mạch và dãn các tĩnh mạch nông ở chân: Có 3 loại dãn tĩnh mạch nông

- Dãn thân tĩnh mạch

- Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện.

- Dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới.

Viêm tĩnh mạch huyết khối: Là tình trạng sưng viêm của các tĩnh mạch nông hoặc sâu gây ra bởi cục máu đông. Gặp ở bệnh nhân bị các bệnh dễ đưa đến huyết khối, bệnh nặng, mổ lớn, ngồi lâu (nghề nghiệp, đi máy bay đường dài). Khi bị huyết khối tĩnh mạch nông, tĩnh mạch nổi hẳn lên, sờ ấm và cứng dọc theo tĩnh mạch, rất đau, có thể kèm đỏ da. Khi bị huyết khối tĩnh mạch sâu, gây tắc và ứ trệ, chân nóng, đau, sưng đỏ, có thể bị chảy máu, ngứa, đau nhức, nhiễm trùng thứ phát.

Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp. Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

Loạn dưỡng da chân: Do rối loạn biến dưỡng: da phù nề, dày lên, có thể dẫn đến tróc vảy, chảy nước và chàm da, thay đổi màu sắc, sạm da và xơ cứng bì. 

Loét cẳng chân: Ở đoạn thấp, là biến chứng ở giai đoạn muộn nhất gây đau đớn và điều trị rất khó khăn. Ban đầu là loét nông, để lâu loét sẽ ăn sâu dần và rộng ra, dễ bội nhiễm, có thể tái đi tái lại nhiều lần.

Một số xét nghiệm cận lâm sàng cần làm:

- Xét nghiệm đông máu.

- Siêu âm Duplex đo tốc độ dòng máu và xem xét cấu trúc các tĩnh mạch chân.

- Chụp X-quang tĩnh mạch để xem xét về giải phẫu của tĩnh mạch.

Suy tĩnh mạch mạn tính diễn biến mạn tính lâu dài theo thời gian và tuổi tác. Cần tập trung chữa trị tốt, có kế hoạch theo dõi tái khám định kỳ khi bệnh còn ở các giai đoạn sớm. Điều trị bằng thuốc và vớ áp lực ở giai đoạn dãn tĩnh mạch nhỏ dạng mạng nhện hay dạng lưới. Ở giai đoạn dãn thân tĩnh mạch, cần đến phẫu thuật cắt bỏ hoặc can thiệp nội mạch phối hợp với điều trị nội khoa.

Cần thay đổi thói quen làm việc và sinh hoạt, tránh đứng lâu hoặc ngồi bất động kéo dài; khi đi ô tô hay máy bay đường dài thì phải gấp duỗi chân từng lúc cho máu lưu thông, uống nhiều nước, mang tất dài hỗ trợ; giảm cân khi dư thừa; dùng thuốc để phòng huyết khôi tĩnh mạch sâu khi có chỉ định. Các tổn thương van tĩnh mạch mạn tính tuy không thể hồi phục, nhưng nếu điều trị tốt, người bệnh vẫn có thể làm việc sinh hoạt bình thường.

Điều trị suy tĩnh mạch mạn tính

- Thay đổi thói quen sinh hoạt và công việc hàng ngày.

- Tùy trường hợp mà sử dụng các thuốc: Giảm đau, kháng viêm, kháng sinh, chống đau, làm tan cục máu, làm bền thành mạch (aescin, flavonoid)...

- Mang vớ áp lực: Đeo liên tục ban ngày giúp khép các van tĩnh mạch bị hở làm hạn chế máu ứ trệ chảy ngược, giảm phù nề.

- Chích xơ: Áp dụng cho các dãn tĩnh mạch nhỏ dạng lưới và khu trú.

- Phẫu thuật: Lấy bỏ các búi tĩnh mạch dãn, lột tĩnh mạch, sửa van, tạo hình tĩnh mạch qua da...

- Can thiệp nội mạch bằng sóng cao tần hay laser: Là kỹ thuật mới điều trị dãn tĩnh mạch, ít đau, mau hồi phục và đảm bảo thẩm mỹ, thay cho phẫu thuật lột tĩnh mạch kinh điển trước đây.

Có 3 cách cơ bản điều trị suy giãn tĩnh mạch. Một nghiên cứu mới gần đây cho biết tất cả họ đều an toàn và hiệu quả, cho phép bạn lựa chọn tùy theo sở thích và các triệu chứng của bạn. 3 cách điều trị suy giãn tĩnh mạch đó là:

- Đốt laser nội tĩnh mạch: Đưa 1 tia laser đã được làm nóng lên và làm bất hoạt tĩnh mạch mục tiêu. Đốt bằng sóng cao tần nội tĩnh mạch cũng là 1 lựa chọn tương tự, điều trị bằng cách phá hủy nhiệt;

- Liệu pháp xơ hóa: Bác sĩ sẽ tiêm vào tĩnh mạch một chất kích thích gây ra chít hẹp các mạch máu. Đây cách điều trị hiệu quả với những mạng lưới tĩnh mạch nông dưới da;

- Phẫu thuật thắt và cắt bỏ tĩnh mạch: Phương pháp này liên quan đến việc buộc lại và loại bỏ các tĩnh mạch bị hư hỏng. Tương tự như vậy, phương pháp "ambulatory phlebectomy" loại bỏ các tĩnh mạch thông qua một vết rạch nhỏ khoảng 1mm chỉ trong một lần khám ngoại trú.

Các nhà nghiên cứu từ Đại học Aberdeen so sánh hiệu quả của 3 phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất (xơ hoá, cắt đốt bằng laser và phẫu thuật bóc tách) điều trị suy giãn tĩnh mạch. Các kết quả của nghiên cứu này đăng tải trong The New England Journal of Medicine. Họ nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể trong chất lượng cuộc sống bệnh nhân dùng một trong ba phương pháp điều trị khác nhau.

Chuyên gia mạch máu, tiến sĩ Natalie Evans, không tham gia vào nghiên cứu, nhưng quen thuộc với tất cả 3 phương pháp cho biết cắt đốt bằng laser nội tĩnh mạch và phẫu thuật bóc tách cho thấy được phần nào sự vượt trội so với liệu pháp xơ hoá, về chất lượng cuộc sống, nhưng sự khác biệt không lớn. Kết quả cho thấy cả 3 phương pháp điều trị có xu hướng tạo ra kết quả mong muốn, nhưng điều trị laser gây ít biến chứng hơn.